AQUAMARIN

Tên gọi Aquamarine bắt nguồn từ tiếng Latin “Aquamarine”, chúng được ghép từ hai từ đơn là : “aqua” là nước và “marina” là biển, có nghĩa là nước biển. 

 

Lịch sử và truyền thuyết

Theo truyền thuyết, Aquamarin là báu vật của nàng tiên cá, và có quyền năng giúp các thủy thủ an toàn trên biển. Người Latin cổ đại thì tin rằng Aquamarin là viên đá của thần biển, những ngư dân khi ra khơi đánh cá thường mang bên mình trang sức được làm từ loại đá này để được bình yên trước những con sóng dữ. Người châu Âu cho rằng năng lượng từ viên đá này bảo đảm cho một cuộc hôn nhân bền vững và hạnh phúc của các cặp đôi, vì vậy Aquamarine đã trở thành một món quà cưới quý giá.

 

Tinh thể aquamarin


Trong truyền thuyết, người ta tin rằng những viên đá quý thuộc họ Beryl nói chung, và aquamarin nói riêng toát ra nguồn năng lượng chống lại lòng thù hận, màu sắc của chúng làm hoa mắt và mềm yếu trái tim của kẻ thù. Những chiến binh cổ đại đeo trước ngực viên đá aquamarin sáng lấp lánh như lá bùa hộ mệnh, sẽ ban cho họ lòng dũng cảm và nhiệt huyết chiến đấu. Trang sức được làm từ loại đá này cũng là biểu tượng của ý chí và lòng nhân ái.


Aquamarin còn là biểu tượng của sự thanh thản và bình yên trong tâm hồn, sự tự tin và khả năng giao tiếp. Chúng mang trong mình vẻ đẹp quyến rũ lạ thường, bởi Aquamarine mang trong mình một sức sống đến từ bầu trời và đại dương bao la, thể hiện qua màu xanh trong lành và tươi mát. Trang sức gắn Aquamarin rất phù hợp với người thuộc các ngành nghề liên quan đến sự giao tiếp như: diễn giả, giảng viên, phát ngôn viên, phát thanh viên, MC,…


Theo quan niệm phương tây, Aquamarin là loại đá mang lại sự may mắn cho những người có sinh nhật vào tháng 3,  là quà kỉ niệm 19 năm cưới. 
Trong văn hóa phương Đông, màu xanh nước biển của Aquamarin thuộc hành thủy, là trang sức cầu tài, cầu may mắn và bình an cho người mệnh Thủy và mệnh Mộc. Người mệnh Thủy đeo đá Aquamarin để được tương hợp, và người mệnh Mộc đeo để được tương sinh.


Tổng quan về đặc tính của Aquamarine.  
Tên khoa học:                    Aquamarin/ Aquamarine
Công thức hóa học:           Be3Al2Si6O18
Lớp:                                     Silicat
Nhóm:                                 Beryl
Hệ Tinh thể:                        Sáu phương
Dạng thường tinh thể:        Lăng trụ đến trụ, tỏa tia
Độ cứng:                             7,5-8,0
Tỷ trọng:                              2,68 – 2,74
Chỉ số chiết suất:               1,564 – 1,596
Vết vỡ:                                Vỏ sò đến bất quy tắc.
Cát khai:                             Không hoàn toàn theo mặt {0001}
Đa sắc:                               Xác định,gần như không màu, xanh nước biển nhạt, xanh nước biển, xanh lá                                                                  cây nhạt      
Phát quang dưới tia UV:   Không phát quang

Sự hình thành:                  Aquamarin được hình thành trong các hốc đá Granit, Pegmatit Granit, trong mạch                                                      thạch anh Muscovit, Plagiogranit và Gneiss.
Màu sắc:                           Tùy thuộc vào hàm lượng ion sắt, có thể từ màu xanh nước biển nhạt đến màu lam                                                    đậm, màu lam phớt lục. Trong đó màu lam đậm là màu được ưa chuộng nhất.
Màu vết vạch:                   Trắng.
Ánh:                                    Thủy tinh.


Phân bố trên thế giới:    Braxin, Mozambique, Myanma, Úc, China, Ấn độ, Kenya, Madagasca, Namibia,                                                          Nigieria, Zambia, Zimbabue, Mỹ. Trong đó các mỏ có chất lượng cao là Santa                                                         Maria, Ceara và Maxixe (Brazin),Pakistan. 
Phân bố ở Việt Nam:      Thanh Hóa, Khánh Hòa.
Xử lý và tổng hợp
Xử lý

Đá Aquamarin là khoáng vật nằm trong nhóm Beryl có màu sắc xanh lam nhạt  phớt lục, xanh nước biển nhạt hoặc xanh lam đậm. Trong đó, loại màu xanh lam nhạt phớt lục phổ biến hơn, giá trị thương mại thấp hơn so với loại có màu xanh lam đậm. Vì vậy người ta thường xử lý bằng nhiệt độ cao có thể thay đổi màu sắc từ xanh lá lam phớt lục sang xanh lam đậm. Do đó hãy cẩn trọng khi những viên màu xanh lam đậm mua vì rất có thể chúng được xử lý nhiệt để tăng độ đậm của màu sắc.

Tổng hợp
Một số aquamarin nhân tạo tăng trưởng nhiệt dịch có màu xanh phớt tím, cũng được báo cáo trong những năm 2000, chúng cũng được tạo ra bởi Malossi, Cộng hòa Czech. Cũng giống như với aquamarin nhân tạo được miêu tả trước đây (Koivula và Kammerling, 1988) từ công ty Novosibirsk, Nga được đưa vào thị trường qua công ty liên doanh Tairus (Thái Lan – Nga), những aquamarin Malossi mới này cũng có những cấu trúc tăng trưởng dạng chảy rối đến góc cạnh (thường được gọi là dạng răng sói) đặc trưng hay hình dạng ranh giới các sọc phụ hay đường sinh trưởng dạng sọc.


Một vài con số thú vị.


1/ Viên đá aquamarin lớn nhất thế giới được ghi nhận tới thời điểm hiện tại nặng 110 kilogram, dài 48m5 cm, đường kính 42 cm được khai thác ở Marambaia, Minas Gerais, Brazil vào năm 1910.
2/ Aquamarin là khoáng vật thuộc họ Beryl, giống như Emerot ngọc lục bảo.
3/ Mỏ aquamarin cao nhất thế giới nằm ở độ cao 15000 feet (4,5km) trên dãy núi Karakoram, Pakistan.


Nguồn: Sưu tầm